Chèo là sân khấu dân gian của vùng đồng bằng Bắc Bộ, lớn lên từ những chiếu chèo trải trước sân đình trong mùa hội làng. Người diễn chèo hoá thân vào những kiểu vai quen thuộc như kép, đào thương, đào lệch, hề, mụ ác, hát theo hệ thống làn điệu riêng, có tiếng trống chèo dẫn nhịp và giữ không khí suốt buổi diễn.
Chào bạn, đây là Nhà Nghệ Sĩ. Nếu cải lương gợi tiếng đờn miền Tây, thì chèo gợi sân đình, cây đa, tiếng trống làng. Tập này mình kể chèo từ góc người đứng trên chiếu: các kiểu vai, cái tinh thần của hề chèo, và người học chèo bắt đầu từ đâu.
Từ chiếu chèo sân đình đến sân khấu
Chèo gắn chặt với đời sống làng xã đồng bằng sông Hồng. Ngày xưa, trong những dịp hội, người ta trải một chiếc chiếu trước sân đình làm chỗ diễn, khán giả ngồi vây quanh ba phía. Cụm từ chiếu chèo còn được dùng đến hôm nay để chỉ nơi diễn và cả đoàn chèo.
Không gian chiếu chèo rất gần. Người diễn và người xem gần như chạm vào nhau, nên chèo có nhiều lối giao lưu: hề nói đùa với người xem, người xem có thể cổ vũ, bình phẩm. Cái gần gũi đó là một phần linh hồn của chèo.
Theo thời gian, chèo lên sân khấu nhà hát, có cảnh trí, ánh sáng. Nhưng nhiều đặc điểm của chiếu chèo vẫn còn: lối diễn ước lệ, cảnh trí giản dị, vai trò lớn của người diễn trong việc gợi không gian.
Tìm hiểu nguồn gốc xa xưa của chèo, các nhà nghiên cứu có nhiều giả thuyết khác nhau. Điều chắc chắn là chèo đã sống qua rất nhiều thế hệ ở làng quê Bắc Bộ trước khi lên sân khấu chuyên nghiệp.
Những kiểu vai quen thuộc trong chèo
Chèo có những kiểu vai định hình khá rõ, người xem quen chỉ cần nhìn trang phục, dáng đi là đoán được tính cách. Kép là vai nam chính, thường là người học trò, người chồng hiền lành. Đào thương là vai nữ chính đức hạnh, chịu nhiều oan khổ.
Đào lệch là vai nữ lẳng lơ, táo bạo, đi ngược khuôn phép. Nhân vật Thị Mầu trong tích Quan Âm Thị Kính là ví dụ quen thuộc nhất. Vai đào lệch đòi diễn viên nhanh nhẹn, ánh mắt và điệu bộ rất sống.
Ngoài ra còn có mụ ác, vai lão, và đặc biệt là hề. Mỗi kiểu vai có lối hát, lối đi, lối múa riêng mà người học phải nắm.
Tuy vậy, người diễn giỏi không đóng một kiểu vai như một cái khuôn chết. Họ đem vào đó những chi tiết riêng, làm nhân vật vừa đúng chất chèo vừa có hơi thở của con người.
Hề chèo: tiếng cười của làng
Hề là linh hồn tiếng cười của chèo. Người ta thường nhắc đến hề áo ngắn, thường là người dân nghèo, đầy tinh nghịch, và hề áo dài, thường là những vai có chức phận nhưng bị đem ra giễu, như thầy lý, thầy đồ. Ranh giới này không cứng nhắc tuyệt đối, mỗi đoàn có cách thể hiện riêng.
Tiếng cười của hề chèo thường mang tính châm biếm. Hề giễu thói hư tật xấu, giễu kẻ có quyền mà dốt nát. Người xem làng quê ngày xưa cười hả hê vì thấy những điều mình muốn nói được nói ra trên chiếu chèo.
Diễn hề rất khó. Phải nhanh, phải biết ứng biến, biết bắt lời người xem, biết dừng đúng lúc. Một miếng hề quá đà sẽ thành nhạt hoặc thô.
Nhiều người làm nghề nói vai hề là vai học lâu nhất, vì nó cần cả kỹ thuật, cả vốn sống, cả sự nhạy với khán giả của từng đêm.
Trống chèo và các làn điệu
Trong dàn nhạc chèo, trống chèo giữ vai trò đặc biệt. Người đánh trống không chỉ giữ nhịp mà còn đẩy không khí, nhấn vào những động tác của diễn viên, và ở nhiều nơi còn dùng tiếng trống để khen chê. Ngoài trống, dàn nhạc thường có đàn nhị, sáo, đàn nguyệt và các nhạc cụ gõ khác.
Chèo có một kho làn điệu phong phú, mỗi làn điệu hợp với một tâm trạng, một tình huống. Có điệu dùng khi nhân vật kể lể, có điệu dùng khi vui, khi buồn, khi đi đường. Người diễn phải thuộc và hiểu khi nào dùng điệu nào.
Bên cạnh hát còn có những lối nói có nhịp, có điệu, nằm giữa nói và hát. Đây là phần giúp lời thoại chèo có chất riêng, không giống kịch nói.
Một điểm hay của chèo là người diễn có thể thay lời mới trên làn điệu cũ cho hợp tình huống. Vì vậy hiểu sâu làn điệu quan trọng không kém thuộc lời.
Người học chèo bắt đầu từ đâu?
Người học chèo thường bắt đầu bằng làn điệu cơ bản và những bài múa, điệu bộ nền. Hát chèo đòi hỏi giọng trong, chữ rõ, luyến láy mềm theo dấu tiếng Việt, khác khá nhiều so với hát nhạc nhẹ.
Múa trong chèo không tách rời khỏi hát. Đôi tay, đôi mắt, cây quạt, dải yếm, tất cả đều tham gia kể chuyện. Người học sẽ được dạy những động tác chuẩn trước, rồi mới học cách vận dụng vào vai.
Có thể học ở trường nghệ thuật có chuyên ngành chèo, theo các đoàn, hoặc bắt đầu từ câu lạc bộ chèo ở làng, ở nhà văn hoá. Ở nhiều vùng Bắc Bộ, câu lạc bộ chèo vẫn sinh hoạt đều và chào đón người mới.
Và hãy xem chèo thật nhiều, cả trên sân khấu lớn lẫn chiếu chèo ở hội làng. Không khí của một chiếu chèo làng dạy cho bạn cái hồn mà sách không ghi lại được.
Câu hỏi thường gặp
Chèo khác cải lương ở điểm nào lớn nhất?
Chèo gắn với làng quê Bắc Bộ, hát theo hệ thống làn điệu chèo với trống chèo dẫn nhịp và lối diễn ước lệ đậm. Cải lương ra đời muộn hơn ở Nam Bộ, dựa trên nền đờn ca tài tử với câu vọng cổ là trung tâm.
Quan Âm Thị Kính kể về chuyện gì?
Đây là tích chèo về Thị Kính, người phụ nữ bị oan ức nhiều lần mà vẫn nhẫn nhịn, sau cùng thành Phật Bà Quan Âm. Trích đoạn Thị Mầu lên chùa trong tích này rất nổi tiếng.
Diễn viên chèo có cần biết múa không?
Có, múa và điệu bộ là phần không tách rời của chèo. Các động tác với quạt, khăn, dáng đi đều mang ý nghĩa và được học bài bản.
Hát chèo có khó với người miền Nam không?
Khó ở chỗ phát âm và cảm thụ chữ theo giọng Bắc, vì lời chèo vốn gắn với tiếng nói vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tuy vậy, học kỹ với thầy thì người vùng nào cũng có thể hát được.
Trẻ em có thể học chèo từ mấy tuổi?
Nhiều câu lạc bộ nhận trẻ từ tuổi tiểu học để làm quen làn điệu và điệu bộ cơ bản. Việc học chuyên sâu thường bắt đầu muộn hơn, khi giọng và cơ thể đã ổn định.