NhaNgheSi.comNhà Nghệ Sĩ
Cải lương, chèo, tuồng

Cải lương từ đâu ra và vì sao câu vọng cổ là linh hồn?

Cải lương là loại hình sân khấu ra đời ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ hai mươi, lớn lên từ đờn ca tài tử và lối ca có điệu bộ. Câu vọng cổ là linh hồn vì nó cho người nghệ sĩ khoảng rộng nhất để giãi bày nỗi lòng nhân vật, và là nơi khán giả chờ đợi nhất.

🎙️
Nghệ sĩ cải lương mặc áo dài hát cạnh người đờn ghi-ta phím lõm
🔊 Bản audio

Video đang xử lý, vui lòng quay lại sau.

Cải lương là loại hình sân khấu ra đời ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ hai mươi, lớn lên từ đờn ca tài tử và lối ca có kèm điệu bộ, rồi phát triển thành những vở diễn có tích truyện, có cảnh trí. Câu vọng cổ được xem là linh hồn của cải lương vì nó cho người nghệ sĩ khoảng rộng nhất để giãi bày nỗi lòng nhân vật, và cũng là chỗ khán giả chờ đợi nhất trong cả đêm diễn.

Chào bạn, đây là Nhà Nghệ Sĩ. Hôm nay mình mở loạt bài về sân khấu truyền thống bằng cải lương, loại hình mà nhiều gia đình miền Nam nghe từ chiếc ra-đi-ô của ông bà. Mình kể từ phía người làm nghề: cải lương được dựng lên từ những gì và người hát phải học những gì.

Từ đờn ca tài tử đến sân khấu cải lương

Trước khi có cải lương, ở Nam Bộ đã có đờn ca tài tử, lối chơi nhạc của những người yêu nhạc ngồi quây quần, người đờn người ca, chủ yếu để thưởng thức cùng nhau. Các bài bản trong đờn ca tài tử là cái nền âm nhạc mà cải lương thừa hưởng.

Dần dần, người ta không chỉ ca mà còn thêm điệu bộ, đứng lên diễn theo nội dung bài ca. Lối ca có điệu bộ này được xem là bước chuyển sang sân khấu. Từ đó hình thành những vở diễn hoàn chỉnh với nhiều nhân vật, có màn có cảnh.

Chữ cải lương thường được giải thích là sửa đổi cho tốt hơn, ý nói một lối sân khấu mới so với những hình thức có trước. Về mốc thời gian và vở diễn đầu tiên, các tài liệu có những cách kể khác nhau, nên mình chỉ nói chung là vào khoảng những thập niên đầu thế kỷ hai mươi.

Điều đáng nhớ là cải lương lớn lên rất nhanh, đi khắp các tỉnh Nam Bộ rồi ra miền Trung, miền Bắc, có một thời là món ăn tinh thần quen thuộc của rất nhiều gia đình.

Một vở cải lương được dựng từ những gì?

Một vở cải lương đan xen giữa nói thường, nói lối và ca. Nói thường giống như lời thoại trong kịch. Nói lối là lời nói có vần, có nhịp, ngân nga, thường dùng để dẫn vào một đoạn ca. Ca là phần hát theo các bài bản.

Dàn nhạc cải lương truyền thống thường có đàn kìm, tức đàn nguyệt, đàn tranh, đàn cò, đàn ghi-ta phím lõm và nhiều nhạc cụ khác tùy đoàn. Cây đàn ghi-ta được khoét lõm phím là một sáng tạo đặc trưng của nhạc Nam Bộ, giúp người đờn nhấn nhá được những âm luyến láy.

Giữ nhịp cho cả dàn là cái song lang, một nhạc cụ gõ nhỏ bằng gỗ, thường do người đờn kìm gõ bằng chân. Tiếng song lang đánh dấu những chỗ nhịp chính, và người ca phải nghe được nó.

Nội dung các vở rất đa dạng, từ tích xưa, chuyện dã sử, đến chuyện tình, chuyện gia đình, chuyện xã hội. Dù đề tài gì, những đoạn ca vọng cổ vẫn thường là nơi cảm xúc lên cao nhất.

Câu vọng cổ: vì sao được gọi là linh hồn?

Vọng cổ có gốc từ bài Dạ cổ hoài lang, nghĩa là đêm khuya nghe tiếng trống mà nhớ chồng, ra đời ở vùng Bạc Liêu. Qua thời gian, bài được giãn nhịp ra dài dần, câu nhạc rộng hơn, cho người ca nhiều chỗ để luyến láy, ngân nga.

Bài vọng cổ thường gặp hiện nay có sáu câu. Mỗi câu dài, chia nhiều nhịp, kết thúc ở những chỗ nhịp chính được đánh dấu bằng song lang. Trước khi vào vọng cổ, người nghệ sĩ thường có một đoạn nói lối rồi một câu xuống xề, câu chuyển rất đặc trưng, như một lời dọn đường.

Câu vọng cổ là chỗ nhân vật nói hết nỗi lòng: thương nhớ, đau khổ, hối hận, chia ly. Người nghệ sĩ có thể kéo dài, nhấn, ngắt theo cảm xúc của mình trong khuôn nhịp. Đó là lý do cùng một câu vọng cổ, mỗi người ca một vẻ.

Khán giả cải lương lâu năm thường chờ câu xuống xề để vỗ tay, và có thể nhận ra một giọng ca qua một hai chữ đầu. Với người hát, ca được câu vọng cổ cho mùi là cái mốc trưởng thành trong nghề.

Người hát cải lương phải luyện những gì?

Đầu tiên là bài bản. Ngoài vọng cổ, người hát cần thuộc nhiều bài bản và điệu lý dùng trong cải lương, mỗi bài có tính chất riêng, có bài vui, có bài buồn, có bài dùng cho cảnh trang nghiêm. Phần này học lâu nhất.

Thứ hai là nhịp. Cải lương có nhiều chỗ co giãn, nhưng vẫn phải về đúng nhịp chính. Người ca vào sai chỗ, xuống sai nhịp là người nghe sành nhận ra ngay. Nhiều thầy dạy trò bằng cách gõ nhịp và bắt nhẩm theo song lang.

Thứ ba là chữ. Tiếng Việt có thanh điệu, và cách luyến của cải lương phải đi theo dấu của từng chữ để chữ nghe tròn. Hát luyến đẹp mà sai dấu, người nghe sẽ không hiểu, hoặc nghe ra một chữ khác.

Và cuối cùng là diễn. Cải lương là sân khấu, không chỉ là ca. Người hát cần biết đi đứng, biểu cảm, phối hợp với bạn diễn, sống trong vai mà vẫn giữ được giọng ca.

Cải lương hôm nay nhìn từ người làm nghề

Cũng như nhiều loại hình truyền thống, cải lương hôm nay không còn đông khán giả đến rạp như một thời. Người làm nghề biết rõ điều đó và nhiều người đang tìm cách đưa cải lương đến gần khán giả hơn, qua những vở ngắn, những buổi diễn ở không gian nhỏ, những bản ghi đăng lên mạng.

Ở nhiều tỉnh, các câu lạc bộ đờn ca và cải lương vẫn sinh hoạt đều đặn, là nơi giữ lửa và là nơi người trẻ bắt đầu.

Với người muốn theo nghề, cải lương đòi hỏi kiên nhẫn: học bài bản nhiều năm, rèn giọng, rèn diễn. Thu nhập không phải lúc nào cũng ổn định. Nhưng niềm vui khi ca một câu vọng cổ mà thấy cả khán phòng lặng đi là thứ khó tìm ở nơi khác.

Và cải lương không đứng yên. Mỗi thế hệ nghệ sĩ lại đem vào những cách hát, cách diễn mới, đúng với tên gọi của nó.

Câu hỏi thường gặp

Cải lương khác đờn ca tài tử ở chỗ nào?

Đờn ca tài tử chủ yếu là chơi nhạc và ca để thưởng thức, không cần sân khấu, không có vở diễn. Cải lương là sân khấu có tích truyện, nhân vật, diễn xuất, dựa trên nền âm nhạc của đờn ca tài tử.

Song lang là gì?

Song lang là nhạc cụ gõ nhỏ bằng gỗ dùng để giữ nhịp trong đờn ca tài tử và cải lương. Tiếng song lang đánh dấu nhịp chính, giúp người đờn và người ca đi cùng nhau.

Xuống xề là gì?

Xuống xề là câu chuyển ngay trước khi vào bài vọng cổ, thường ngân dài và đậm cảm xúc. Khán giả cải lương quen xem đây là tín hiệu một đoạn vọng cổ sắp bắt đầu.

Học cải lương có cần giọng thật đặc biệt không?

Không nhất thiết, nhưng cần giọng có thể luyện để luyến láy mềm và đủ hơi cho những câu dài. Quan trọng hơn là cảm nhịp, cảm chữ và sự kiên nhẫn học bài bản.

Vì sao gọi là vọng cổ?

Tên gọi được cho là gắn với bài Dạ cổ hoài lang, mang ý nhớ về tiếng trống đêm khuya. Về cách giải thích chi tiết, các nguồn có những cách kể khác nhau.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.